Văn hóa Than-Giá trị khác biệt

(STVN). Sau 11 năm nghỉ hưu (2009 - 2020) tôi vẫn vô tình được nghe những người đã đến thăm Quảng Ninh khen Văn hoá Ngành Than, khen Thợ Mỏ cần cù, dũng cảm, chân thành, cởi mở nhưng rất thẳng thắn... Họ nói Ngành Than thật khác biệt. Không ít người đã hỏi tôi tại sao ?

Tháng 10/1994 Chính phủ thành lập Tổng công ty Than Việt Nam. Với tư cách Tổng giám đốc tôi đã chọn vế đầu “Kỷ luật và Đồng tâm” trong khẩu hiệu “Kỷ luật và đồng tâm, chúng ta nhất định thắng” của Cuộc đình công thắng lợi tháng 11/1936 của hàng vạn phu mỏ Tỉnh Quảng Yên đưa vào chiến lược phát triển Tổng công ty Than VN. Nếu làm được vế đầu “Kỷ luật và đồng tâm” thì nhất định sẽ có vế sau “Chúng ta nhất định thắng”. Kỷ luật - Đồng tâm đã hun đúc lên Ý chí và Tình người Ngành Than. Đó là cái gốc của Văn hoá Than = Văn hoá Thợ Mỏ và Vùng Mỏ.

Trong bài “170 năm Tình người Ngành Than” (Tạp chí Xưa và Nay, 2010) tôi đã kết luận: “Có thể nói rằng càng phát triển thì tình người Ngành Than càng sâu đậm và tạo thành bản sắc văn hoá riêng, khác biệt với các ngành nghề khác, vùng miền khác và trở thành tài sản quý giá nhất, vững mạnh nhất làm nền tảng phát triển”.

“KỶ LUẬT - ĐỒNG TÂM” BẮT NGUỒN TỪ ĐÂU ?

Tình Vua, quan đối với dân nghèo.

Nước ta có 180 năm (1840-2020) lịch sử khai thác than. Phải chăng “Tình người Ngành Than” bắt đầu ngay từ “Sớ” tâu lên Vua “xin thuê dân công đào mỏ lấy than” của Tổng đốc Hải Yên (hai tỉnh Hải Dương, Quảng Yên) Tôn Thất Bật ? Đọc kỹ chỉ dụ ngày 10/1/1840 của Vua Minh Mạng thấy toát lên cái tình của Tổng đốc và Nhà vua đối với dân nghèo:

“Tháng này, Tổng đốc Hải Yên là Tôn Thất Bật tâu xin thuê dân công đào mỏ lấy than ở núi An Lãnh, xã Đông Triều thuộc hạt đó. Trước đây Bộ (Hộ) đã tư cho hạt đó đào lấy mười vạn cân than đúng kỳ chở về Kinh đô giao nạp. Trẫm nghĩ nhân dân hạt đó vừa mới lại được hơi an ổn, sao nỡ đem việc không gấp gáp mà làm họ vất vả. Bọn Bật lại tâu hạt đó sau biến cố vụ mùa vừa mất thu hoạch kém, đời sống rất khó khăn, dân đều tình nguyện làm để lấy tiền nuôi thân. Nay nghĩ dân trong hạt phần lớn nghèo hèn, đáng thương xót chu cấp. Lệnh chuẩn theo lời cầu xin. Các ngươi nên thận trọng chớ sơ suất để an uý lòng Trẫm muốn ra ân cho dân. Khâm thử”.

Tổng đốc Tôn Thất Bật sâu sát địa bàn, thương dân bị mất mùa, đói rét nên xin Vua cho thuê dân đào mỏ lấy than để họ “lấy tiền nuôi thân”.

Vua Minh Mạng thương dân “nghèo hèn”, muốn “chu cấp” nên cho phép Tổng đốc “thuê dân công đào mỏ lấy than” cho triều đình. Đặc biệt Vua còn dặn kỹ các quan địa phương: “các ngươi nên thận trọng, chớ sơ suất để an uý lòng Trẫm muốn ra ân cho dân”. Vua đã dặn thế thì Tổng đốc và quan cấp dưới phải lo đối xử tử tế với dân làm thuê. Tình người là đây, nhân văn ở đây, ngay trong văn tự đầu tiên khai sinh ra Ngành Than. Thử hỏi mấy ngành có được ? Thợ Mỏ ngày nay đã tôn vinh Tôn Thất Bật là Tổng giám đốc đầu tiên của Ngành Than,

 

Tình làng nghĩa xóm” của người đào mỏ thuê.

Những nông dân nghèo cùng xóm, cùng làng được quan địa phương huyện Đông Triều thuê đào than cho triều đình tại chân núi An Lãnh (nay là Yên Lãng, Xã Yên Thọ, Đông Triều) theo cách “ăn đố làm khoán”. Đào than giữa hoang vu rừng thiêng, nước độc đâu có dễ. Hùm beo, rắn rết, muỗi độc, mưa dầm, nắng gắt, rét buốt, bụng đói, cật rét, lán trại sơ sài, dụng cụ thô sơ, bệnh tật, tai nạn chết người không tránh khỏi... Sẵn có “tình làng, nghĩa xóm” dân làm thuê đã dựa vào nhau, chia nhau nắm cơm, manh chiếu, dùng chung cuốc, xẻng, quang gánh..., cùng nhau vượt qua khắc nghiệt, cố làm sao đào được nhiều than, kiếm được nhiều tiền nuôi thân. Ai đó ngã xuống thì những người khác bó chiếu chôn cất bên sườn núi. Lâu dần có thêm nhiều người chết do bệnh tật, đói rét, tai nạn lao động nên người ta đã dựng miếu thờ đơn sơ ngay bên bờ suối để tưởng nhớ người thân, và cầu an cho mình. Đó là Miếu Mỏ đầu tiên tại điểm khai thác than đầu tiên dưới chân núi An Lãng, đơn sơ nhưng luôn toả khói hương.

Qua năm tháng không mỏ than nào không có người ngã xuống trong lao động, không mỏ nào không có gian thờ, miếu thờ hay đài tưởng nhớ Thợ Mỏ. Tập đoàn Than-Khoáng sản VN đã xây lại Miếu Mỏ ở Yên Lãng thành công trình văn hoá tri ân Vua Minh Mạng và Tổng đốc Tôn Thất Bật đã khai sinh ra Ngành Than, tưởng nhớ và biết ơn những người Thợ Mỏ mọi thế hệ đã qua đời. Hơn 900 người ngã xuống từ khi tiếp quản Vùng Mỏ 1955 đến 2018 đã được khắc tên trên bia đá. Đây là sự khác biệt, không giống bất kỳ ngành nào khác.

Kỷ luật”: Từ bị áp bức đến tự giác đấu tranh.

“Đồng tâm”: Từ “Tình làng nghĩa xóm” đến Tình đồng nghiệp phu mỏ - Tình người Ngành Than.

Năm 1888, sau khi “mua” được Vùng Mỏ từ tay Nhà Nguyễn thực dân Pháp đã lập Công ty Pháp mỏ than Bắc kỳ. Từ đây bắt đầu thời kỳ “mộ phu mỏ” từ các vùng nông thôn nghèo đói để khai thác than đưa về Pháp và xuất khẩu, số dùng trong nội địa không nhiều. Đặc điểm của ngành Than thời kỳ này là khai thác hoàn toàn thủ công nên rất đông người, tạo thành đội ngũ hàng vạn phu mỏ. Người từ khắp các làng quê ra mỏ làm phu kiếm sống, cụ nội tôi là một trong số đó. Thường thì người ta không đi đơn lẻ mà thành từng nhóm từ các làng, mang theo thói quen, tập quán “tình làng nghĩa xóm” quê mình.

Trên tầng mỏ lộ thiên cheo leo hay trong các hầm lò nhỏ bé ngoằn nghèo như hang chuột, thiếu ánh sáng, thiếu gió, nóng hầm hập, có thể sập bất cứ lúc nào, phu mỏ đóng khố, cởi trần tay cầm chòong, cuốc, xẻng, đào bới, xúc than đổ vào ky, sọt hay xe cút kít, còng lưng đẩy ra chân tầng hay cửa lò dưới sự giám sát bằng roi vọt của cai, đội. Mỗi người hay nhóm vài người là một mắt xích trong dây chuyền đào mỏ thủ công; một vài người đói, mệt gục xuống làm nó bị đứt đoạn, lập tức đòn roi giáng xuống.

 

Đòn roi buộc phu mỏ cả đàn ông lẫn đàn bà phải làm theo lệnh của cai, đội. Không theo, không cố làm đủ sản phẩm thì lập tức bị chúng cúp phạt, đánh đập dã man. Đó là thứ “kỷ luật” rất hà khắc nhằm vắt sức lao động của phu mỏ, thu nhiều lợi nhuận. Trong hoàn cảnh bắt buộc ấy phu mỏ phải tuân theo để giữ lấy mạng sống, để có “miếng cơm, manh áo”. Nhưng, họ biết san sẻ cho nhau, bảo nhau hợp sức cùng làm, cùng lãn công đặng bớt đi chút vất vả, né được phần nào đòn roi.

Đi làm đã khốn khổ là vậy, cuối ngày lê chân ra suối rửa cái mặt nhiễm đầy bụi đá, bụi than, tắm nước lạnh, sút lưng. Suối Vàng Danh còn gây ra ghẻ lở, hắc lào, bệnh tật vì bắt nguồn từ rừng lim độc. Phu mỏ sống chen chúc trong các lán trại sơ sài, bẩn thỉu, “Lán Tháp” Vàng Danh là một ví dụ điển hình. Ăn thì cơm hẩm, muối trắng, sang hơn có thêm con cá khô mục. Ốm đau không được chữa trị, nhiều người chết khi tuổi còn rất trẻ. Bên kia Sông Mông Dương vẫn còn nhiều ngôi mộ vô thừa nhận tại cái gọi là “Bãi tha ma phu mỏ”. Lương đã ít lại bị chủ mỏ trả bằng “tiền mìn” (đồng tiền dập bằng đai kẽm hòm mìn), chỉ tiêu được tại mỏ để mua bơ gạo, mớ rau, con cá khô đa phần từ vợ con cai, đội hay đổ vào sòng bạc, nhà thổ của giới chủ. Bằng cách này chủ mỏ “xích chân” phu mỏ, khó lòng mà thoát đi đâu được.

Đời sống cùng khổ khiến phu mỏ tự gắn kết, gắn kết hơn cả thời ở làng xã nơi xuất thân. Người cùng quê giúp nhau, cùng làm một chỗ giúp nhau, hình thành tình thương yêu đồng nghiệp phu mỏ - cái gốc của “Tình người Ngành Than”.

Cuộc đình công tháng 11 năm 1936 dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản với khẩu hiệu “Kỷ luật và đồng tâm, chúng ta nhất định thắng” là một minh chứng hùng hồn. Phu mỏ bị áp bức, bóc lột nặng nề đã tập hợp lực lượng tự giác đứng lên đấu tranh, bắt đầu cuộc đình công từ cuối ca 3 ngày 12/11/1936. Ban đầu là mấy trăm phu mỏ Núi Trọc, sau lan ra cả Cẩm Phả Mỏ, Cẩm Phả Cảng, Mông Dương, Hòn Gai, Vàng Danh và khắp Vùng Mỏ. Phu mỏ các nơi đã cùng nhau siết chặt đội ngũ, đồng lòng muôn người như một giữ vững kỷ luật đình công, đấu tranh cho đến khi giành được thắng lợi sau hơn 20 ngày liên tục. Không chỉ phu mỏ cùng vợ con đồng lòng đấu tranh mà nhân dân địa phương đã đoàn kết, tham gia cùng họ, đưa quy mô đình công toàn Vùng Mỏ lên trên 3 vạn người.

Hàng vạn phu mỏ đồng lòng siết chặt đội ngũ đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng, được đông đảo nhân dân địa phương ủng hộ là cuộc biểu dương lực lượng lớn chưa từng có, đã làm chủ mỏ thực dân khiếp sợ, phải nhượng bộ, đó chính là nguyên nhân đình công thắng lợi.

“Kỷ luật và Đồng tâm - Chúng ta nhất định thắng” là Truyền thống Vùng Mỏ - Truyền thống Ngành Than

25 năm sau (1936 - 1961), Đặc Khu uỷ Hồng Quảng chọn ngày nổ ra đình công 12/11/1936 là “Ngày Miền Mỏ bất khuất”. Từ đây tổ chức kỷ niệm hàng năm, phát huy truyền thống kỷ luật, đồng tâm, động viên thi đua yêu nước hoàn thành kế hoạch trên khắp Vùng Mỏ Hồng Quảng. Ngày 30/10/1963 Khu Hồng Quảng và Tỉnh Hải Ninh hợp nhất thành Tỉnh Quảng Ninh. Tỉnh uỷ đã chỉ đạo kỷ niệm Ngày Miền Mỏ Bất khuất từ Đông Triều đến Móng Cái. Không chỉ các mỏ, nhà máy Ngành Than mà các cơ quan, đoàn thể, trường học, bệnh viện... đều tổ chức kỷ niệm... Tôi thích 4 từ “Miền Mỏ bất khuất” vì tự nó nói lên tất cả, không chỉ kỷ luật, đồng tâm mà rất thông minh, kiên cường, dũng cảm dấn thân và dám hy sinh. Đó là bản lĩnh của người Vùng Mỏ, người Quảng Ninh. Cũng chính vì thế mà tôi đã đề nghị Công đoàn Than-Khoáng sản VN hợp tác tái bản tiểu thuyết “Bất khuất” của Nhà văn Lê Phương nhân kỷ niệm 90 năm Công đoàn Việt Nam (1929-2019).

Năm 1982, theo đề nghị của Bộ Mỏ và Than, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng quyết định 12/11 là “Ngày Truyền thống Ngành Than”. Từ đây, toàn Ngành Than trên khắp cả nước có ngày truyền thống chung, kỷ niệm hàng năm một cách thiết thực.

Năm 1995 Tổng công ty Than VN quyết định: ngày 12/11 tất cả công nhân, viên chức được nghỉ việc có hưởng lương để vui chơi, kỷ niệm Ngày Truyền thống. Có lẽ chưa ngành nào làm như thế.

Năm 2006 Tỉnh uỷ, UBND Tỉnh Quảng Ninh và Ban cán sự đảng, Hội đồng quản trị Tập đoàn Than-Khoáng sản VN đã thống nhất chọn tên gọi “Ngày Truyền thống công nhân Vùng Mỏ - Truyền thống Ngành Than” thể hiện đầy đủ giá trị truyền thống văn hoá công nhân Vùng Mỏ và Ngành Than đang phát triển mạnh bên ngoài ranh giới Quảng Ninh, đồng thời nói lên ý nghĩa tốt đẹp của mối quan hệ truyền thống giữa Tỉnh Quảng Ninh và Ngành Than.

Thợ Mỏ Ngành Than - Công nhân và nhân dân Vùng Mỏ Quảng Ninh đã tự làm lên ngày truyền thống bằng chính sự dấn thân đấu tranh giành thắng lợi tháng 11 năm 1936. Hiếm có vùng đất nào có Ngày Truyền thống chung của ngành và địa phương cấp tỉnh như Ngành Than VN và Tỉnh Quảng Ninh. Điều này mang lại giá trị to lớn và rất khác biệt.

Thợ Mỏ cũng là Chiến sỹ.

Ngày 25/4/1955 Chính phủ ta tiếp quản Vùng Mỏ, phu mỏ trở thành Thợ Mỏ làm chủ Ngành Than. Mặc dù vậy khó khăn chồng chất khó khăn, lao động thủ công vẫn chiếm ưu thế. Trong một lò khai thác mỗi ca có đến năm sáu chục thậm chí cả trăm người cùng làm việc, cùng trao đổi thông tin gây nên sự ồn ào như ở chợ quê, vì thế mà thợ mỏ gọi đó là “Lò chợ”, một cái tên riêng có ở nước ta.

Từ 5/8/1964 đến cuối 1972 bom đạn Mỹ giáng xuống khắp Vùng Mỏ, nhiều Thợ Mỏ hy sinh, xe máy, thiết bị, nhà xưởng bị phá huỷ... Thợ Mỏ vẫn kiên cường vượt lên vừa “sản xuất thật nhiều than cho Tổ quốc” vừa chiến đấu bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, hơn thế còn thành lập cả Binh đoàn Than vào Nam chiến đấu từ mùa hè năm 1967. Cái tên “Binh đoàn Than” khắc hoạ hình ảnh Thợ Mỏ cầm súng trở thành Chiến sỹ trên tuyến lửa Tây Nguyên, thật khác biệt, mạnh mẽ, thân thương, để lại dấu ấn sâu trong lòng dân Vùng Mỏ.

Trong chiến tranh chống Trung Quốc xâm lược đầu năm 1979 Thợ Mỏ đứng hàng đầu. “Trung đoàn năm xưa nay đã thành sư đoàn”. Hàng vạn người ra biên giới xây dựng phòng tuyến trong khi vẫn bảo đảm đủ than cho điện, xin măng, giấy, hoá chất và các nhu cầu khác.

Có lẽ, không Thợ Mỏ nào quên lời dạy của Bác Hồ ngày 15/11/1968: “Ngành sản xuất than cũng như quân đội đánh giặc. Toàn thể công nhân và cán bộ phải có nhiệt tình cách mạng và tinh thần yêu nước rất cao, ý chí quyết đánh, quyết thắng rất vững, phải đoàn kết nhất trí, vượt mọi khó khăn nhằm vào một mục đích chung là sản xuất thật nhiều than cho Tổ quốc. Bác mong tất cả công nhân và cán bộ cố gắng hơn nữa, đẩy mạnh Ngành Than trở thành một ngành gương mẫu cho các ngành kinh tế khác và Quảng Ninh trở thành một tỉnh giầu đẹp”. Tôi tin rằng đến nay Ngành Than và Tỉnh Quảng Ninh đã thực hiện được lời dạy đó. Ngành Than đã được thưởng Huân chương Sao Vàng 1996, danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới 2005, đang phát triển hiệu quả và bền vững. Quảng Ninh nay thực sự giầu đẹp, văn minh, luôn đứng đầu trong cải cách hành chính, Vùng Mỏ nay sạch đẹp không còn bụi bậm như xưa mặc dù sản lượng than đã tăng gấp 10 lần sau 30 năm... Nhờ đâu ? Đó là nhờ “Kỷ luật và Đồng tâm”, nhờ “Ý chí” và “Tình người Ngành Than”, nhờ tinh thần đoàn kết, quyết tâm đổi mới của cả Tỉnh Quảng Ninh. Nếu không tự giác chấp hành kỷ luật lao động, kỷ luật chiến đấu, không đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau thì làm sao Thợ Mỏ Ngành Than và Nhân dân Quảng Ninh vượt lên giành thắng lợi ? Viết đến đây câu hát “Trăm ngàn khó khăn ta vẫn vượt lên, dâng cả trái tim cho Tổ quốc Mẹ hiền” (“Đất mỏ Anh hùng, Xuân Giao, 1964) ùa vào trong tôi. Đó chính là giải đáp, đó chính là giá trị khác biệt.

VĂN HOÁ THAN THỜI HIỆN ĐẠI

Kỷ luật từ bắt buộc đến tự giác, đến Tác phong công nghiệp.

Tình Thợ Mỏ = Đỉnh cao của Văn hoá Than.

Thợ Mỏ, nhất là thợ lò phải làm việc trong môi trường nguy hiểm, độc hại, rủi ro cao: chật hẹp, ẩm ướt, thiếu ánh sáng, thiếu không khí; các nguy cơ sập lò, cháy nổ, bục nước, ngạt khí luôn rình rập... Dây chuyền sản xuất đòi hỏi sự đồng bộ, công đoạn sau phải khớp với công đoạn trước, người này phụ thuộc vào người kia, nhìn nhau mà làm, tránh sơ xuất, sai sót. Muốn giữ được sinh mạng bắt buộc thợ mỏ phải rất cẩn trọng trong từng đường đi, nước bước, trong mỗi thao tác cụ thể. Nghĩa là bắt buộc phải chấp hành một cách nghiêm ngặt biện pháp kỹ thuật an toàn, quy trình sản xuất và mệnh lệnh của người chỉ huy, chẳng khác gì người chiến sỹ chiến đấu ngoài chiến trường. Bác Hồ thấu hiểu điều đó nên đã nói “Ngành sản xuất than cũng như quân đội đánh giặc”, phải chịu đựng gian khổ hy sinh, phải chấp hành “kỷ luật sắt” mới giành thắng lợi với tổn thất thấp nhất. Đó là thứ kỷ luật bắt buộc đối với mọi người cùng hành nghề làm mỏ từ công nhân mới vào nghề đến giám đốc, tổng giám đốc. Trên thế giới này chưa ai dám mạnh miệng tuyên bố làm mỏ hầm lò không có tổn thất về người. Thợ Mỏ khi bước chân vào lò hiểu điều đó, cũng như Chiến sỹ trước khi ra mặt trận. Họ đã tập luyện nhiều để có tay nghề cao và tự giác chấp hành kỷ luật cốt sao giảm đến mức thấp nhất các tổn thất.

 

Con người ta ai cũng muốn tự do làm theo ý mình. Nhưng khi đã vào quân đội, đã vào làm mỏ thì phải tuân theo quy trình, theo lệnh chỉ huy. Ban đầu cảm thấy khó chịu, thậm chí rất khó chịu nhưng sau quen dần, trở thành lính chiến kỳ cựu hay thợ mỏ lành nghề. Thợ mỏ lành nghề tự ý thức được tuân thủ kỷ luật và hợp tác làm việc là để bảo đảm an toàn sinh mạng, nâng cao năng suất lao động và thu nhập cho mình cùng đồng nghiệp. Vì vậy, tư tưởng họ thoải mái, làm việc an toàn và hiệu quả, hơn thế họ còn chú ý dạy cho thợ trẻ sớm lành nghề. Đó chính là “Tác phong công nghiệp”.

Kỷ luật bắt buộc dần chuyển thành tự giác trong mỗi thợ mỏ, trước hết là vì lợi ích cá nhân họ, sau đến lợi ích chung của mỏ. Kỷ luật tự giác của nhiều người cùng làm việc hình thành “Tác phong công nghiệp” của mỗi tập thể lao động nhỏ và cả công ty.

Với mỗi người, mỗi tập thể lao động, tác phong công nghiệp hình thành dần qua thời gian, không một sớm một chiều mà có được. Huấn luyện và tự huấn luyện đối với người xuất thân nông thôn đã khó, với thanh niên các dân tộc miền núi cao càng khó và lâu gấp bội, đòi hỏi sự kiên trì và tình thương yêu đồng nghiệp sâu sắc.

Thợ Mỏ sống cùng nhau, ăn cùng nhau, đi chung xe đến nơi làm việc, làm cùng nhau, tắm cùng nhau, dạy nhau kỹ năng làm việc an toàn trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, rủi ro rình rập, cùng nhau thực hiện mệnh lệnh, hoàn thành nhiệm vụ sản xuất, san sẻ cho nhau bớt vất vả, nâng đỡ nhau lên, cứu nhau trong hoạn nạn, thậm chí vì nhau mà hy sinh, vui chơi, uống rượu cùng nhau, bên nhau lúc vui, lúc buồn... Đó là đặc trưng của Tình Thợ Mỏ - Tình người Ngành Than, của Tác phong công nghiệp Vùng Mỏ Quảng Ninh, là đỉnh cao của Văn hoá Than.

Từ lâu, tác phong công nghiệp đã từ các mỏ, nhà máy Ngành Than truyền sang các xí nghiệp, nhà máy, các cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể, bệnh viện, trường học, hình thành bản sắc văn hoá Vùng Mỏ, làm nên thế mạnh của Quảng Ninh.

Tỉnh Quảng Ninh và Ngành Than tự hào về “Đất Mỏ Anh hùng”, nơi phát sinh tác phong công nghiệp đầu tiên ở nước ta, kết thành giá trị khác biệt dẫn đầu trong đổi mới.

Ngày nay, Ngành Than đã và đang thực hiện một cách có hiệu quả các tiêu chí: “Mỏ xanh - Mỏ sạch - Mỏ hiện đại - Mỏ an toàn - Mỏ ít người” đã đề ra từ hơn 10 năm trước. Tái cơ cấu, hiện đại hoá, cơ giới hoá, tin học hoá đã làm tăng năng suất, giảm nhẹ sức lao động và nâng cao mức độ đảm bảo an toàn lên một cách rõ rệt.

Càng hiện đại càng đòi hỏi kỷ luật tự giác, tác phong công nghiệp cao. Chỉ có thợ lành nghề, kỹ sư thạo việc, chỉ huy giỏi mới đáp ứng được yêu cầu đó. Mỏ càng hiện đại, càng ít người thì càng an toàn, năng suất càng cao, thu nhập càng nhiều, công nhân càng đoàn kết gắn bó trước hết vì lợi ích của chính mình. Ngược lại, cơ giới hoá, tự động hoá cao trong khi tay nghề công nhân và kỹ sư thấp, kỷ luật lao động lỏng lẻo, chỉ huy tồi sẽ gây ra sự cố kỹ thuật, tai nạn lao động chết người, huỷ hoại tài sản đồng nghĩa với thảm hoạ, với thất bại.

Đời sống Thợ Mỏ đậm nét Văn hoá Than

Ngành Than đang đi đúng hướng: chú trọng đào tạo, huấn luyện, tự huấn luyện công nhân, cán bộ; đẩy mạnh cơ giớ hoá, tin học hoá, tự động hoá song hành với nâng cao đời sống Thợ Mỏ, bảo tồn và phát triển Văn hoá doanh nghiệp - Văn hoá Ngành Than- Khoáng sản VN. Tôi đã đến, đã “đi lò” ở nhiều mỏ hầm lò trên thế giới. Không phải ở đâu, kể cả nước phát triển hơn ta thợ mỏ cũng được chăm sóc chu đáo như Ngành Than VN. Ở nhiều nơi thợ mỏ phải tự chuẩn bị bữa ăn giữa ca mang từ nhà đi, phải tự giặt lấy quần áo, ủng bảo hộ lao động, phải tự bỏ tiền chữa bệnh nghề nghiệp trong khi lương chưa hẳn đã cao hơn ta.

Tôi tự hào Ngành Than ta đã lo giặt quần áo, ủng bảo hộ lao động hàng ngày cho Thợ Mỏ. Tôi tự hào Ngành Than ta đã tổ chức bữa ăn đầu ca, giữa ca chu đáo, đủ dinh dưỡng, hợp khẩu vị, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; chưa từng xảy ra sự cố sức khoẻ hàng loạt. Thử hỏi, có mấy nơi tổ chức được bữa ăn ca tự chọn phong phú như các mỏ Ngành Than ? Tôi tự hào Ngành Than ta chữa bệnh nghề nghiệp bụi phổi rất hiệu quả. Tôi tự hào về những công trình nhà ở tập thể khang trang; công trình văn hoá, thể thao phục hồi chức năng đắc dụng, về phong trào thi đua và nền văn nghệ Than...Có lần Nhạc sỹ Trọng Bằng nói với tôi: “Văn nghệ quần chúng Ngành Than chỉ thua mỗi văn nghệ Quân đội nhân dân VN”.

Tôi cũng biết đâu đó Thợ Mỏ còn phàn nàn về lương thấp, về nơi ăn chốn ở chưa tốt, về thái độ đối xử thiếu văn hoá của các cấp chỉ huy... Không ít người đã bỏ việc... Vấn đề là phải làm sao loại bỏ các điều này.

Thợ Mỏ lương chưa cao nhưng nếu làm việc chăm chỉ, đủ công thì  đảm bảo được cuộc sống gia đình và có tích luỹ. Số hộ nghèo giảm rõ rệt. “Mái ấm công đoàn” đã giúp cho hầu hết các hộ nghèo xoá nhà đột nát. Ngày càng nhiều Thợ Mỏ có thu nhập trên dưới 300 triệu đồng/năm, có thể làm nhà và/hoặc mua ô tô. Mong sao số người có thu nhập cao này không chỉ là “điển hình tiên tiến” mà phát triển theo cấp số nhân, đồng nghĩa với ổn định đội ngũ lao động, giữ vững tác phong công nghiệp, bảo tồn và phát huy Văn hoá Than.

Đã thành truyền thống tốt đẹp, Thợ Mỏ luôn “nhường áo, sẻ cơm” cho đồng nghiệp và đồng bào. Luôn đi đầu ủng hộ đồng bào bị thiệt hại do thiên tai. Phục dưỡng đến cuối đời các Bà Mẹ VN anh hùng không chỉ ở Quảng Ninh mà cả Quảng Nam. Kết nghĩa với các trường học, các xã nghèo, các đồn biên phòng... Xoá nhà dột nát cho hơn 400 hộ các dân tộc Huyện Ba Chẽ. Nhận giúp đỡ 4 huyện nghèo theo Chương trình 30 A (2008) của Chính phủ...

Ngày xưa gian khổ Thợ Mỏ đã cất cao tiếng hát “Tôi là người Thợ Lò sinh ra trên đất mỏ...” (Hoàng Vân 1964). Ngày nay Thợ Mỏ vững tin vào tương lai, hát lên “Khi chúng tôi vào lò thấy ngày mai gần lại” (Trần Chung).

LAN TOẢ

Như trên đã viết: Kỷ luật, đồng tâm, tác phong công nghiệp của Thợ Mỏ Ngành Than từ lâu đã thấm sâu một cách tự nhiên và theo chủ ý của lãnh đạo Quảng Ninh vào địa bàn góp phần quan trọng tạo nên bản sắc văn hoá Vùng Mỏ = nguồn lực mạnh của Quảng Ninh trong phát triển.

Cuối năm 2005 Chính Phủ thành lập Tập đoàn công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam. Văn hoá Than có cơ hội đồng hành cùng công cuộc mở rộng kinh doanh đầu tư vào các lĩnh vực khác. Không chỉ cơ khí mỏ, vật liệu nổ công nghiệp; xi măng, vật liệu xây dựng; dịch vụ địa chất, khoa học, công nghệ, môi trường, đào tạo, y tế, thương mại, vận tải, cảng biển, hàng hải, du lịch chịu ảnh hưởng của Văn hoá Than từ trước mà Ngành điện, Ngành khoáng sản, luyện kim của TKV cũng bị thuyết phục bởi sức hấp dẫn của Văn hoá Than. Nói cách khác: Văn hoá Than đã theo chân các nhà quản lý và công nhân kỹ thuật lan toả và xâm nhập nhanh vào các ngành nghề khác của TKV trên mọi miền Tổ quốc, làm thay đổi một cách tích cực tác phong, lề lối làm việc, cách thức quản lý kinh doanh và tổ chức các hoạt động văn hoá, xã hội.

Mỗi công ty, tổng công ty, viện, trường, bệnh viện đều giữ gìn và phát triển sắc thái văn hoá riêng hoà trong tổng thể Văn hoá Ngành Than - Khoáng sản Việt Nam theo chiến lược “Từ tài nguyên, khoáng sản và nguồn nhân lực đi lên giàu mạnh, thân thiện với môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; hài hoà với đối tác, bạn hàng; hài hoà với địa phương và cộng đồng; hài hoà trong nội bộ, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động”. Kỷ luật, đồng tâm của Ngành Than và kỷ luật quân đội làm lên sức mạnh của Tổng công ty Đông Bắc. Đến Tổng công ty Hoá chất mỏ thấy rõ bản sắc Văn hoá riêng đậm nét bộc lộ rất khéo trong cái chung của Văn hoá Than. Thăm Tuyển than Cửa Ông không thể quên các chiến tích lịch sử hào hùng được dàn dựng thành các màn kịch, màn hát múa hoành tráng đầy hấp dẫn và một đội bóng đá nữ nổi tiếng mang màu cờ, sắc áo TKV...

Người ngoài Ngành Than đến thăm Quảng Ninh, tiếp xúc với công nhân mỏ thường bình luận rằng: Thợ Mỏ Ngành Than rất thắng thắn, cởi mở, lịch sự và dễ mến. Mấy người bạn già bảo tôi rằng: Thợ Mỏ các ông thật khác biệt, làm ra làm, ăn ra ăn và chơi ra chơi. Ngay cái cách họ cầm và đặt chén rượu xuống cũng khác. Đặc biệt họ không mượn rượu để nói chuyện nọ, chuyện kia làm khách khó chịu. Nhưng, nếu ai đó dùng nước lọc thay rượu để nâng cốc chúc họ thì coi chừng, họ giận, không uống được thì cứ nói thẳng với họ. Chúng tôi thích điều đó, kính trọng và biết ơn họ. Gần đây một nhà báo nói với tôi: Nghe người ta nói “làm than dễ ợt, chỉ việc đào lên mà bán còn kêu khó với lỗ” nên em đã xin chui xuống hầm lò xem sao. Vào lò mới thấy chả dễ tý nào, khó khăn, vất vả thấm đẫm mồ hôi. Khi lên lò thượng trống ngực em đập thình thịch, quản đốc phải dìu em quay lại. Có cho em lương cao mấy em cũng xin hàng. Chui vào lò rồi mới thấy thương và kính trọng Thợ Mỏ, họ thật kiên cường, dũng cảm anh ạ.

KẾT

Văn hoá Than, Văn hoá TKV ngày càng hấp dẫn và lan toả. Đó là sức mạnh vô địch không gì phá vỡ được. Đó là nguồn lực vô giá của phát triển bền vững.

Người viết: Thạc sỹ, kỹ sư mỏ Đoàn Văn Kiển.

 

 

Gửi bình luận